Cố đô Huế là thủ phủ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn từ năm 1687 đến 1774, sau đó là thủ đô của triều đại Tây Sơn từ năm 1788 khi Hoàng đế Quang Trung tức Nguyễn Huệ lên ngôi. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vào năm 1802 lấy niên hiệu là Gia Long, ông cũng chọn thành Phú Xuân làm kinh đô cho nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Huế kết thúc sứ mệnh là thủ đô Việt Nam vào năm 1945 khi vị hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị.
Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là Thủ
phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi
đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn. Cố đô Huế ngày
nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa
đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Suốt
mấy thế kỷ, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc
cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho một bức cảnh thiên nhiên
tuyệt vời sẵn bày sông núi hữu tình thơ mộng. Bởi vậy, nói đến Huế, người ta
nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng
lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng
tích thiên nhiên thợ trời khéo tạc...
Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình
thành ở Huế từ đầu thế kỷ XIV (khi vua Chăm là Chế Mân dâng hai Châu Ô, Rí cho
nhà Trần để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân), các chúa Nguyễn (thế kỷ
XVI-XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và 13 đời vua Nguyễn
(1802-1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở vùng Huế một tài sản văn hóa vô
giá. Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích của Cố đô đã được sánh ngang hàng với
các kỳ quan hằng ngàn năm tuổi của nhân loại trong danh mục Di sản Văn hóa thế
giới của UNESCO.
Nằm giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương
dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho
quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao
biến động của thời gian. Đó là Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành
Huế, ba tòa thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên
suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết
hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong
một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên
đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là
núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh... Nhìn từ phía
ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên
những tiết tấu diệu kỳ khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động
lên nó.
Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần
vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được
lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của
triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành
- nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.
Xuyên suốt cả ba tòa thành, khi thì lát đá cụ thể
khi thì mang tính ước lệ, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên
mình những công trình kiến trúc quan yếu nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương
Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn
Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung... Hai bên đường Thần đạo này là hàng
trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập
chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một
cảm giác nhẹ nhàng thanh thản.
Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ
sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền
kiến trúc cảnh vật hóa. Lăng vua đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho
chủ nhân hưởng thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh
hằng khi bước vào thế giới bên kia. Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm ở
đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam.
Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính
cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng
giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến
tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng
núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một
chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng
Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng
thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối
được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên
chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình
ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua
không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...
Bên cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga
tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn
liền với thể chế của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã
tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững
chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ
mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành lũy
của Kinh đô song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì nghệ thuật kiến
trúc đã đạt đến đỉnh cao. Đan xen giữa các khu vực kiến trúc cảnh vật hóa độc
đáo ấy, chúng ta còn có thể tham quan đàn Nam Giao - nơi vua tế trời; đàn Xã
Tắc - nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền - đấu trường duy nhất dành cho voi
và hổ; Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời
Nguyễn; Võ Miếu - nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên Tiến sĩ
võ; điện Hòn Chén - nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na... còn quá nhiều những thắng
tích liên quan đến triều Nguyễn hòa điệu trong những thắng cảnh thiên nhiên nổi
tiếng như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận...
thực sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.
Huế từng hiện hữu những khu vườn ngự danh tiếng như
Ngự Viên, Thư Quang, Thường Mậu, Trường Ninh, Thiệu Phương... Chính phong cách
kiến trúc vườn ở đây cũng lan tỏa khắp nơi trong dân gian, phối hợp với những
nhân tố sẵn có, dần dần định hình một kiểu thức nhà vườn đặc thù của xứ Huế.
Đây là thành phố của những khu nhà vườn với những ngôi nhà cổ thâm nghiêm ẩn
hiện giữa xóm phường bình yên trong lòng cố đô. Mỗi một khu nhà vườn lại mang
bóng dáng của Kinh Thành Huế thu nhỏ, cũng có bình phong thay núi Ngự, bể nước
thế dòng Hương, đôi tảng đá cụm hoa thay cho cồn Dã Viên, Bộc Thanh... đủ các
yếu tố tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ... lại bốn mùa hoa trái, ríu rít chim
ca, không gian ấy còn là thế giới của những thi nhân mặc khách đối ẩm ngâm
vịnh, là nơi diễn xướng những điệu ca Huế não nùng như Nam Bình, Nam Ai...
trong những đêm gió mát trăng thanh.
Gần một thế kỷ rưỡi là Kinh đô của một triều đại
phong kiến với thiết chế chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, lại từng là thủ
phủ của Phật giáo một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng
son, Huế còn lưu giữ hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính, an lạc giữa những
núi rừng hoang vu u tịch.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét